Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017

Thực hư việc "Ăn cơm nguội có nguy cơ mắc bệnh ung thư"

Trong gạo sống luôn có sẵn bào tử của một loại vi khuẩn tên Bacillus, đây là dạng khuẩn có thể gây ra ngộ độc thực phẩm, và có thể sống sót ở nhiệt độ cao, tức là cho dù đã nấu chín gạo thành cơm thì loại bào tử này vẫn tồn tại.
Cơm vừa nấu xong ăn luôn thì không sao nhưng cũng chính nồi cơm đó để trong nhiệt độ phòng một thời gian khoảng 4-5 tiếng thì những bào tử của vi khuẩn Bacillus sẽ trở thành vi khuẩn thật sự và sinh sôi với số lượng lớn. Khi ăn phải cơm chứa những vi khuẩn này, những người có sức đề kháng kém đặc biệt là trẻ em và người già sẽ dễ bị ngộ độc, gây ra nôn mửa, tiêu chảy cấp, có trường hợp nặng phải nhập viện cấp cứu.
Các chuyên gia khuyên chị em, nếu muốn giữ lại cơm thừa để ăn bữa sau thì phải bỏ vào tủ lạnh càng nhanh càng tốt, chậm nhất là 1 tiếng sau khi cơm chín. Có thể làm nguội cơm nhanh bằng cách dùng quạt hoặc ngâm nồi cơm vào nước lạnh rồi cho vào hộp đậy nắp kín, bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh. Mặc dù vậy, vẫn phải nhớ rằng, không được để cơm quá 24h, sau thời gian đó thì đừng tiếc mà hãy đổ bỏ ngay.
Có nhiều đồn đoán rằng ăn nhiều cơm nguội còn có khả năng bị ung thư dạ dày, tuy nhiên điều này chưa có cơ sở.
Trả lời phỏng vấn trên Khám phá, PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh khẳng định: “Cơm nguội không có nguy cơ ung thư hay gây ngộ độc nếu được nấu chín và bảo quản đúng cách trong vòng một ngày (24 giờ)”.
Bác sĩ cũng cho biết không nên hâm nóng lại cơm quá 2 lần vì sau đó các chất dinh dưỡng cũng không còn nữa.
Các gia đình nên cân đối để nấu cơm vừa người ăn, tránh trường hợp nấu thừa rồi hấp hoặc rang lại cho bữa sau, vừa để đảm bảo sức khỏe vừa tránh lãng phí.

Sản phẩm được bào chế từ lương y của Thọ Xuân Đường
Đối tượng sử dụng TPCN: Người lớn
–  Giúp phòng ngừa ung thư
– Bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư, u bướu
– Bệnh nhân sau phẫu thuật khối u
– Bệnh nhân đang và sau điều trị ung thư bằng tia xạ, hóa chất
– Người thường xuyên tiếp xúc môi trường độc hại có nguy cơ mắc ung thư
 
Sản phẩm được phân phối độc quyền tại Công ty Cổ phần Peacelife Việt Nam
Địa chỉ: 262A Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Hotline: 0943.968.958/ 046.654.7733
Hãy gọi cho chúng tôi để biết thêm về sản phẩm và được tư vấn một cách chi tiết nhất!
Điểm khác biệt khi quý khách mua sản phẩm Anti-u100 giúp phòng ngừa và hỗ  trợ điều trị ung thư  tại Peacelife Việt Nam
1, Cam kế hàng chính hãng: Peaecelife Việt Nam là Công ty phân phối độc quyền các dòng sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, với quy trình nhập hàng nghiêm ngặt để đảm bảo tất cả các  sản phẩm Anti-u100 đều là hàng chính hãng, chất lượng, an toàn. Với tiêu chí đặt sự « an toàn » dành cho khách hàng là số một.
2, Giá cả ưu đãi: Peacelife là công ty phân phối độc quyền nên giá Anti-u100 giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư luôn cam kết giá hãng đã đưa ra chính thức.
3, Giao hàng miễn phí: Dù quý khách ở bất cứ  vùng miền nào trong Việt Nam, sản phẩm Anti-u100 giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư sẽ được giao tới tận tay quý khách và quý khách sẽ không phải trả thêm bất cứ một phí vận chuyển nào khác
4, Tư vấn nhiệt tình và có trách nhiệm: Có thể chúng tôi không phải là những người tư vấn hay nhất, nhưng chúng tôi cam kết tư vấn thành thực nhất về sản phẩm.
5, Niềm tin và sự hài lòng: Hàng nghìn khách hàng đã tin tưởng và hài  lòng với dịch vụ của Peacelife. Peacelife Việt Nam luôn làm hết sức để quý khách có được sự hài lòng, luôn mang đến sức khoẻ cho quý khách hàng.

 
TPCN Anti-U100 bổ sung các chất có tác dụng giải độc, đào thải các gốc tự do, giúp ngăn ngừa và hỗ trợ các liệu pháp điều trị u bướu, ung thư; Giảm độc tính và tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị trong điều trị ung thư. Tuy nhiên, do thói quen của người tiêu dùng mà TPCN Anti-U100 thường được tìm kiếm dưới tên gọi là  "Thuốc" , lưu ý thêm rằng sản phẩm không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn một cách chi tiết nhất!

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

Giải quyết thách thức lớn đối với hệ thống y tế Việt Nam như thế nào?

Có thể nói, một trong những thách thức đối với hệ thống y tế Việt Nam đó là việc quản lý lượng dữ liệu khổng lồ về hồ sơ bệnh sử của người bệnh. Việt Nam là quốc gia có gánh nặng bệnh tật kép. Các bệnh lây nhiễm vẫn ở mức cao, ngày càng khó kiểm soát hơn và gây ra gánh nặng kinh tế lớn hơn trước đây, vì chi phí điều trị cao hơn do tình trạng biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường, tình trạng đề kháng với các loại thuốc (lao, sốt rét, HIV), hoá chất, một số bệnh mới chưa có phương pháp điều trị, phòng ngừa đặc hiệu. Song song với đó, nhóm các bệnh không lây nhiễm (BKLN) và tai nạn thương tích ngày càng có xu hướng gia tăng. Các BKLN, đặc biệt là bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang dần chiếm ưu thế trong cơ cấu gánh nặng bệnh tật và tử vong. Số liệu ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2012 cho thấy, từ năm 1990, BKLN đã vượt qua các bệnh lây nhiễm để chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng gánh nặng bệnh tật tính theo số năm sống mất đi sau khi hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật (DALY). Gánh nặng do các BKLN đã tăng từ 45,5% năm 1990 lên 58,7% năm 2000, 60,1% năm 2010 và 66,2% năm 2012. Các BKLN cũng chiếm phần lớn trong số các nguyên nhân tử vong hay gặp nhất ở hầu hết các nhóm tuổi trong năm 2012.1Bối cảnh già hóa dân số, cùng với sự gia tăng các bệnh mạn tính không lây, dẫn đến số lượng người dân có nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) ngày một tăng. Điều này đặt ra những thách thức đối với hệ thống y tế Việt Nam, đặc biệt là trong việc quản lý lượng dữ liệu khổng lồ về hồ sơ bệnh sử của người bệnh.
Thực tế dữ liệu bệnh sử của một người bệnh có thể bao gồm nhiều chủng loại, với những cấu trúc khác nhau. Đó có thể là dữ liệu dạng chữ, số (dữ liệu tiêm chủng; thông tin y tế cơ bản: tuổi, giới, nhóm máu; tiền sử bệnh, tật, dị ứng; dấu hiệu sinh tồn: thân nhiệt, mạch, nhịp thở, huyết áp…; chỉ số nhân trắc học: cân nặng, chiều cao, BMI, vòng bụng…; kết quả chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng; phác đồ chăm sóc và điều trị: điều trị thuốc, phẫu thuật, thủ thuật); dữ liệu dạng hình ảnh, video và âm thanh (kết quả từ các thiết bị chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, nội soi, X-quang, CT-scanner, MRI…); dữ liệu dạng tín hiệu hay dạng sóng (kết quả từ các thiết bị chẩn đoán thăm dò chức năng như điện tim, điện não, điện cơ…).
Tại các cơ sở y tế, theo phương thức lưu trữ truyền thống, các dữ liệu bệnh sử của người bệnh được thu thập thông qua ghi chép của nhân viên y tế và lưu trữ dưới dạng sổ sách, giấy tờ như sổ tiêm chủng, giấy khám sức khỏe định kỳ; đối với trường hợp điều trị nội trú hoặc ngoại trú, dữ liệu bệnh sử được thể hiện trong bệnh án nội/ngoại trú, các phiếu khám lâm sàng/cận lâm sàng tùy theo chuyên khoa, các phiếu ghi lại phác đồ chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân (căn cứ theo mẫu ban hành kèm theo Quyết định số 4069/2001/QĐ-BYT ngày 28/09/2001 của Bộ Y tế), đồng thời in ấn kết quả đo lường từ các thiết bị hỗ trợ chẩn đoán cận lâm sàng để lưu trữ dưới dạng giấy (kết quả xét nghiệm các loại, kết quả từ thiết bị chẩn đoán thăm dò chức năng như điện tim, điện não…), dạng phim ảnh hoặc đĩa CD/DVD (kết quả từ các thiết bị chẩn đoán hình ảnh như hình ảnh siêu âm, nội soi, chụp X-quang, CT-scanner, MRI…). Đầu mối quản lý lưu trữ hồ sơ bệnh án tại các cơ sở y tế hiện nay là phòng Kế hoạch-Tổng hợp. Đối với phương thức lưu trữ truyền thống này, các cơ sở y tế khó có khả năng lưu trữ lâu dài các dữ liệu bệnh sử của người bệnh, trong khi khối lượng sổ sách và phim ảnh, CD/DVD cần thiết cho việc lưu trữ ngày càng tăng lên theo thời gian cùng với nhu cầu CSSK của người dân. Bên cạnh đó, các dữ liệu bệnh sử dạng chữ viết tay của nhân viên y tế nhiều khi thường khó đọc, do việc sử dụng các kí hiệu viết tắt khác nhau, chữ viết xấu, dễ gây sai số thông tin trong trường hợp cần tra cứu lại dữ liệu bệnh sử. Mặt khác, với mỗi lần khám, chữa bệnh (KCB) tại cơ sở y tế, người bệnh đều có một mã số bệnh nhân trong hồ sơ bệnh án. Mã này cũng khác nhau tùy theo cách đánh số của từng cơ sở y tế. Do đó, một người bệnh sẽ có nhiều bản ghi hồ sơ bệnh án với các mã nhận diện khác nhau theo từng lần thăm khám. Những điều này gây khó khăn trong việc quản lý, tìm kiếm, khả năng chia sẻ thông tin bệnh sử của một người bệnh không thuận tiện và kịp thời giữa các khoa phòng trong phạm vi một cơ sở y tế, cũng như giữa các cơ sở y tế với nhau.
Để khắc phục những hạn chế của phương pháp lưu trữ dữ liệu bệnh sử truyền thống, giải pháp ứng dụng y tế điện tử (hay còn gọi là e-health) trong quản lý KCB tại Việt Nam trong những năm gần đây đã cho thấy những đóng góp đáng kể trong quản lý, điều hành hoạt động cung cấp dịch vụ y tế, giảm bớt áp lực công việc cho cán bộ các cơ sở y tế, đồng thời nâng cao chất lượng thông tin. Theo thống kê năm 2014 của Bộ Y tế, 100% bệnh viện tuyến trung ương, 68% bệnh viện tuyến tỉnh, 61% bệnh viện tuyến huyện đã triển khai hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) quản lý bệnh viện.1 Một trong những tiện ích của hệ thống này là việc cho phép thiết lập bệnh án điện tử, thực hiện kê đơn thuốc trên hệ thống máy tính, cơ sở dữ liệu KCB  được cập nhật, thay đổi hàng ngày và đảm bảo an toàn cao. Tuy nhiên, do việc đầu tư khá phức tạp và tốn kém, mức độ ứng dụng CNTT trong các khâu quản lý có sự khác nhau tùy điều kiện của từng cơ sở y tế. Thực tế cho thấy, việc áp dụng CNTT trong quản lý KCB mới chỉ được thực hiện ở từng phân hệ riêng lẻ (phổ biến là quản lý bệnh nhân ra vào viện, quản lý dược, viện phí, …) thông qua các phần mềm hỗ trợ khác nhau, chủ yếu nhằm phục vụ mục đích thống kê, báo cáo. Hiện tượng sử dụng đồng thời nhiều phần mềm trong một cơ sở KCB vẫn còn tồn tại. Tại một số bệnh viện, dữ liệu về người bệnh tham gia bảo hiểm y tế phải được nhập lại 3 lần trên 3 phần mềm khác nhau: phần mềm quản lý bệnh viện do bệnh viện tự đầu tư; phần mềm quản lý bảo hiểm y tế (do bảo hiểm xã hội Việt Nam cung cấp); phần mềm báo cáo thống kê (phần mềm Medisoft 2003 do Bộ Y tế ban hành để quản lý thông tin dịch tễ học về bệnh tật và tử vong của các bệnh nhân ra viện).
Một số bệnh viện thuộc Dự án thí điểm áp dụng bệnh án điện tử của Bộ Y tế, hoặc các bệnh viện có tiềm năng về tài chính và công nghệ thông tin (đa phần là các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến Tỉnh, bệnh viện/phòng khám tư nhân) cũng đã tự trang bị hệ thống phần mềm riêng, do các nhà cung cấp phần mềm tư nhân xây dựng (như HTMedsoft, FPT.eHospital…) để quản lý tổng thể bệnh viện. Trong đó, hồ sơ bệnh án của người bệnh được số hóa (hay còn gọi là bệnh án điện tử) và dữ liệu được kết nối thông suốt giữa các khoa phòng trong bệnh viện thông qua hệ thống mạng LAN dùng chung hoặc kết nối không dây; ngoài ra có một số hệ thống hỗ trợ chẩn đoán y khoa kèm theo như: Hệ thống thông tin lưu trữ và truyền tải hình ảnh y khoa (PACS), Quản lý kết quả xét nghiệm (LIS)… Toàn bộ các thông tin bệnh sử của cá nhân, kết quả và hình ảnh chẩn đoán, chỉ định điều trị được quản lý và hiển thị đồng bộ với nhau trên hệ thống máy tính; dữ liệu bệnh án được hiển thị rõ ràng, khoa học; khả năng tìm kiếm, tra cứu thông tin bệnh án trên hệ thống được thực hiện đơn giản và nhanh chóng chỉ bằng cách kích chuột, thay vì phải chờ đợi làm các thủ tục rút hồ sơ trong kho bệnh án như trước đây. Bệnh án điện tử không chỉ giúp lưu trữ dữ liệu KCB lâu dài theo thời gian, bên cạnh đó nó cũng có thể được in ra để lưu trữ như một hồ sơ bệnh án truyền thống theo quy định, hoặc để cung cấp bản kết quả tóm tắt cho người bệnh. Một số bệnh viện đã áp dụng thành công mô hình này như Bệnh viện Quận Thủ Đức, Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc, …
Ngoài ra, tại một số bệnh viện/phòng khám tư nhân cũng trang bị hệ thống cổng thông tin điện tử cho người bệnh, cung cấp tài khoản đăng nhập để người bệnh có thể truy cập và tra cứu lại các kết quả KCB trên máy tính cá nhân hoặc các thiết bị di động được hỗ trợ khi có kết nối internet. Ví dụ: Bệnh viện Medlatec, Phòng khám Nha khoa quốc tế Việt Đức…
Tuy nhiên, trong số các bệnh viện có khả năng áp dụng bệnh án điện tử, ứng dụng lại được viết trên những ngôn ngữ và hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau, theo các yêu cầu riêng của từng bệnh viện, và do rất nhiều các nhà cung cấp phần mềm khác nhau xây dựng. Điều này dẫn đến các bệnh viện không thể kết nối thông tin được với nhau.
Hiện nay, Bộ Y tế đang xây dựng hệ thống trao đổi bệnh án điện tử, đã hình thành một số hệ thống telemedicine (cung cấp dịch vụ tư vấn KCB từ xa bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin) kết nối các bệnh viện, hoạt động hiệu quả như tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức, Sở y tế của một số thành phố lớn; nhưng do những hạn chế về mặt chi phí, kỹ thuật, … telemedicine chủ yếu chỉ được áp dụng trong các buổi hội chẩn nhất định, các cơ sơ y tế có khả năng áp dụng không nhiều.1
Gần đây, từ đầu năm 2017, Bộ Y tế phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội đã cho thí điểm lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân tại ba địa phương đầu tiên là Thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh và Phú Thọ. Trạm y tế xã sẽ thực hiện việc tầm soát sức khỏe cho người dân trong diện quản lý sức khỏe theo hồ sơ điện tử. Theo đó, người dân được khám sức khỏe tổng thể, tất cả dữ liệu được nhập vào hệ thống trên mạng, tạo một hồ sơ quản lý sức khỏe điện tử riêng cho từng cá nhân thông qua mã định danh (ID) và các thông tin bảo mật khác như số điện thoại, số CMND, mã vạch…. Đối với cán bộ, công nhân viên và học sinh, sẽ lấy dữ liệu tại cơ quan, trường học để lập hồ sơ. Mục tiêu nhằm thực hiện CSSK ban đầu, tư vấn và chuyển tuyến. Nhờ sổ sức khỏe điện tử này, mỗi người dân như có một bác sĩ riêng có thể quản lý và theo dõi CSSK của họ trong suốt cuộc đời mà không phải trả chi phí. Với những lợi ích như vậy, nhưng để nhân rộng mô hình này ra cả nước, giúp thông tin sức khỏe của người dân được quản lý thông suốt trong hệ thống y tế, các vấn đề về việc thống nhất mô hình và phần mềm chuẩn quốc gia, kinh phí thực hiện… vẫn còn là một bài toán nan giải.
Đối với dữ liệu tiêm chủng, Bộ Y tế cũng đang bắt đầu áp dụng giải pháp số hóa, với Dự án thử nghiệm Sổ tiêm chủng trên Zalo cho người dân (từ 5/11/2016). Từ 1/6/2017, Bộ Y tế đã chính thức đưa vào sử dụng Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng Quốc gia, tập hợp dữ liệu của 17.000 cơ sở tiêm chủng tại 63 tỉnh, thành phố. Hệ thống này giúp Ngành Y tế quản lý tiêm chủng trọn đời cho mọi người dân từ khi sinh ra theo mã số cá nhân (ID), đồng thời góp phần làm giảm gánh nặng cho cán bộ y tế trong công tác quản lý, báo cáo thống kê. Bên cạnh đó, thông qua ứng dụng sổ tiêm chủng điện tử được tích hợp trên hệ thống, người dân cũng có thể theo dõi lịch tiêm chủng, tiền sử tiêm chủng của mình và các thành viên trong gia đình, chủ động đăng ký lịch tiêm trực tuyến, tìm kiếm cơ sở tiêm gần nhất…
Nhìn chung, với điều kiện ứng dụng CNTT tại các cơ sở y tế ở Việt Nam như hiện tại, việc quản lý và lưu trữ dữ liệu bệnh sử vẫn cần phải kết hợp song song hai phương pháp truyền thống và phương pháp điện tử hóa. Điều này dẫn đến hiện tượng tồn tại đồng thời nhiều phiên bản hồ sơ lưu trữ, theo những định dạng, cấu trúc và mã số nhận diện khác nhau để quản lý thông tin bệnh sử của cùng một cá nhân. Bên cạnh đó, việc quản lý dữ liệu về người bệnh dưới dạng thức số hóa còn manh mún, rời rạc, do chưa có những nền tảng cần thiết cho việc ứng dụng CNTT bài bản, thống nhất, bảo đảm việc kết nối, trao đổi thông tin giữa các hệ thống như danh mục chung, kiến trúc và thiết kế tổng thể hệ thống thông tin y tế, cơ sở dữ liệu tích hợp, ….. Các hệ thống đã xây dựng chưa hướng đến đồng bộ dữ liệu của một người bệnh trong toàn bộ quá trình điều trị, cũng như chưa có khả năng trao đổi thông tin bệnh sử của cá nhân với nhau.1 Do vậy, khả năng cung cấp kịp thời các thông tin bệnh sử của người bệnh từ hệ thống y tế, đặc biệt là trong các trường hợp bệnh nhân cấp cứu hoặc chuyển viện là rất hạn chế. Có thể thấy rằng, mức độ sẵn có và đầy đủ của các thông tin này (như lịch sử điều trị y tế, danh sách các thuốc điều trị đã sử dụng, tình trạng dị ứng, nhóm máu…) sẽ giúp nhân viên y tế có được đánh giá khái quát về tình trạng hiện tại của người bệnh, cũng như biết được những loại thuốc điều trị nào sẽ phù hợp với hệ miễn dịch của người bệnh (đặc biệt trong trường hợp người bệnh bị dị ứng hoặc kháng một loại thuốc nào đó), từ đó đưa ra được những chẩn đoán tốt hơn, cùng với phác đồ điều trị nhanh chóng mà không cần phải lặp lại các quy trình thăm khám như thông thường (như xét nghiệm, chụp phim…) vì có xem xét đến tình trạng y tế đã có từ trước của người bệnh. Điều này không chỉ góp phần giảm thiểu các tai biến/biến chứng trong điều trị, đồng thời còn giúp người bệnh tiết kiệm được chi phí và rút ngắn thời gian cho KCB.
Trên thực tế, để khai thác thông tin bệnh sử của một cá nhân, ngoài việc tra cứu lại hồ sơ được lưu trữ tại các cơ sở y tế, người bệnh cũng là một mắt xích quan trọng trong việc truyền tải các thông tin bệnh sử của họ tới nhân viên y tế, và làm cho các thông tin này trở nên sẵn có và hữu ích cho các lần KCB tiếp theo. Tại Việt Nam, khi KCB tại cơ sở y tế, người bệnh thường được cung cấp các tài liệu dưới dạng phiên bản rút gọn của hồ sơ bệnh án y khoa để lưu trữ cá nhân. Trong trường hợp cần thiết, họ có thể mang theo chúng tới các lần thăm khám kế tiếp để bác sĩ đối chiếu lại. Các tài liệu này chủ yếu bao gồm các ghi chú vắn tắt về kết quả chẩn đoán, liệu pháp điều trị (sổ khám bệnh, phiếu khám, đơn thuốc điều trị ngoại trú), hình ảnh chẩn đoán cận lâm sàng (dạng bản giấy, phim ảnh, hoặc file điện tử để tích hợp trên các thiết bị lưu trữ di động, máy tính cá nhân). Qua đó, có thể thấy, người bệnh kết thúc quá trình thăm khám tại cơ sở y tế với việc mang theo nhiều loại tài liệu bệnh sử từ các nhà cung cấp dịch vụ CSSK khác nhau. Các loại tài liệu với sự đa dạng về định dạng lưu trữ khiến người bệnh gặp khó khăn trong việc quản lý, sắp xếp chúng theo cách tập trung tại một nơi; bên cạnh đó là mối quan tâm về khả năng bảo quản lâu dài một số lượng lớn các loại tài liệu bệnh sử cá nhân theo thời gian. Mặt khác, trong trường hợp điều trị nội trú, theo quy định, một số thông tin bệnh sử quan trọng liên quan đến các nội dung chăm sóc, điều trị y tế tại bệnh viện (được thể hiện qua các phiếu theo dõi chức năng sống, phiếu chăm sóc, tờ điều trị, phiếu công khai thuốc và các thủ thuật trong điều trị…) sẽ được gắn ở đầu giường bệnh để người bệnh được xem và theo dõi tiến trình điều trị tại viện. Tuy nhiên, họ không được cung cấp các tài liệu đó sau khi ra viện để lưu trữ tại nhà. Do đó, đối với người bệnh nội trú, việc tự lưu trữ lại các thông tin bệnh sử này thường khó khăn và ít có hiệu quả.
Như vậy, do những hạn chế trong năng lực lưu trữ cá nhân, người bệnh thường không lưu giữ đầy đủ các tài liệu bệnh sử, hoặc có thể dễ dàng nhầm lẫn, để thất lạc tài liệu, hay không nhớ để mang theo chúng khi cần trong các lần thăm khám tiếp theo. Điều này khiến cho thông tin bệnh sử do người bệnh cung cấp trở nên ít có giá trị tham khảo cho nhân viên y tế trong các lần KCB. Ngoài ra, trong những trường hợp cấp cứu, việc sẵn có các thông tin bệnh sử cần thiết do bệnh nhân lưu trữ để kịp thời cung cấp làm tiền đề cho việc điều trị sẽ là rất khó. Qua đó, có thể thấy, người bệnh dường như phụ thuộc nhiều hơn vào nhà cung cấp dịch vụ CSSK trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân.

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

5 phát hiện mới cho bệnh ung thư

Ung thư là một căn bệnh làm con người khiếp sợ và hiện nay hầu như chưa cách nào chặn lại một khi nó lan ra và di căn. Dù thế, các bác sĩ vẫn đang cống hiến để tìm ra các cách trị căn bệnh nguy hiểm này. Và những tiến bộ mà các nhà khoa học đạt được trong thời gian qua thì việc chữa trị là có thể nằm trong tầm tay. Tạp chí Medical Daily đã tổng kết lại 5 điểm nhấn quan trọng nhất trong việc chữa trị ung thư.
1. Dùng tế bào ung thư để diệt ung thư
Vào tháng 10/2015 , một nhóm các nhà nghiên cứu đã có một khám phá gây kinh ngạc: dùng kháng thể để trị các tế bào ung thư bạch cầu cấp dạng tủy. Họ kiểm soát được các tế bào ác tính vượt xa mong đợi.
Không chỉ làm cho các tế bào này trở thành các nhánh tế bào có lợi nâng đỡ cho hệ thống miễn dịch của cơ thể, mà họ còn tiến xa hơn một bước trong việc phát triển các tế bào này tương tự cấu trúc của kháng thể để diệt tế bào ung thư.
Các nhà khoa học rất đỗi kinh ngạc khi quan sát thấy những  dạng mới của tế bào này bắt đầu tấn công trở lại đồng đội trước đây của chúng, với con số khiêm tốn là khoảng 15% xung quanh tế bào bạch cầu. Những tế bào mới này chỉ diệt đồng bọn, tấn công vào đúng những tế bào tiền thân của chúng.
Đây là lợi điểm khó tin như giễu cợt- các tế bào anh em diệt nhau- trở ngại chính của nhiều ca điều trị ung thư chính là nguy cơ tiềm tàng về những tế bào khỏe mạnh bị diệt. Nhóm các nhà nghiên cứu này đã có cuộc hội thảo với các công ty dược, nhằm đem cách trị liệu này ứng dụng trên người sau khi nghiên cứu kỹ các độc tính tương thích.
2. Dầu olive và ung thư
 
Từ lúc được phát hiện, dầu olive được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, sử dụng trong ăn uống, tốt cho tóc, tốt cho da. Tính chất của olive còn được mở rộng ra trong việc điều trị ung thư; theo lời một nhóm các nhà nghiên cứu khoa học từ Trường đại học Rutgers và Hunter thì món dầu được ưa chuộng này đã cho thấy có thể diệt tế bào ung thư không đầy một giờ.
Oleocanthan là một hợp chất phenolic nguyên thủy của dầu olive lúc chưa khai thác có khả năng diệt trung tâm tế bào ung thư, gây rối loạn và diệt tế bào ung thư trong vòng từ 30 đến 60 phút, các tế bào khỏe mạnh vẫn tồn tại và phát triển, một chiến thắng lớn trong điều trị ung thư.
Hiện nay, quan điểm vẫn cứ là quan điểm, lợi ích của việc sử dụng dầu olive để điều trị ung thư chỉ được chứng minh trên mô hình các tế bào cấy, với tế bào của chuột và của người thử nghiệm thì còn nhiều biến chứng. Dù vậy, các nhà khoa học cũng giả thiết rằng với lượng olecanthal nguyên chất có thể dùng để điều trị ung thư.
3. Hệ thống miễn dịch của cơ thể
Miễn dịch trị liệu là dùng chính hệ thống miễn dịch của cơ thể để điều trị, được xem như là một phương pháp tiếp cận rõ ràng, chẳng phải hệ thống miễn dịch của cơ thể là yếu tố hàng đầu sao? để thực hiện phương pháp này thì cũng có nhiều biến chứng vì sự rối loạn hệ thống miễn dịch tự nhiên của cơ thể là hệ quả tất yếu.
Dù vậy, theo các nhà nghiên cứu ở trường đại học y khoa Maryland thì đây là một tín hiệu chiến thắng trong trận chiến chống ung thư của năm nay, 70% bệnh nhân bị đa u tủy khi được điều trị theo phương pháp này đã có đáp ứng tích cực trên lâm sàng, đây là một giải pháp đầy hứa hẹn, họ thiết kế tế bào T chứa thụ thể của kháng nguyên khối u, đặt vào bệnh nhân đang mắc khối u di căn, chúng truy tìm dấu vết, bắt lấy và diệt tế bào ung thư
Nghiên cứu này với quy mô nhỏ nhưng rất có ý nghĩa cho cộng đồng y học, chưa thấy một tác dụng phụ đáng kể nào được báo cáo trên những bệnh nhân được thử nghiệm, điều này mang ý nghĩa không những điều trị mà còn ít gây nguy cơ đối với sức khỏe. Các nhà nghiên cứu phát biểu đây chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi phương pháp miễn dịch trị liệu này được thay thế các phương pháp trị liệu chuẩn trong điều trị ung thư.
4. Ghép tế bào gốc điều trị ung thư
Layla Richard, một bé gái chưa đầy một tuổi  bị bệnh bạch cầu, là bệnh nhân đầu tiên nhận phương pháp điều trị mới, đã cho thấy rất thành công. Cha mẹ của Layla cho biết con họ bị bệnh bạch cầu giai đoạn xâm lấn nghiêm trọng, qua mấy đợt điều trị, hầu như không có cách điều trị nào mà con họ chưa trải qua, điều này dẫn đến họ đồng ý để cho các bác sĩ thử nghiệm phương pháp điều trị mới mà trước đây chưa từng áp dụng để điều trị ngoài phòng thí nghiệm
Các nhà nghiên cứu khoa học đã lấy tế bào T từ ngân hàng tế bào gốc dùng để nhận dạng và điều trị ung thư giai đoạn cuối, họ đã mang đến cho Layla một cơ hội để sống sót, và qua cuộc điều trị họ đã nhận ra cách này trước giờ chỉ thành công khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nay đã có hiệu quả với cô bé, các Bác sĩ phát biểu: sự đáp ứng trong điều trị của Layla là một điều kỳ diệu, cô bé không còn bị bạch cầu và đã có thể xuất viện về nhà sau một cuộc cấy ghép xương, tủy.
Một cuộc thử nghiệm thành công trên người, ca điều trị cho Layla là một bước tiến dài trong cách điều trị mới.
5. Sốt rét có thể là tác nhân diệt ung thư
Sốt rét được biết như là một căn bệnh truyền nhiễm, lây lan qua đường máu với tác nhân gây bệnh là muỗi. Dù vậy, một nhóm các nhà nghiên cứu Đan Mạch đã có một khám phá khác thường, nhận ra lĩnh vực diệt khối u của ký sinh trùng sốt rét.
Ký sinh trùng sốt rét đặc biệt nguy hiểm đối với các bà mẹ mang thai vì chúng có thể tấn công vào nhau thai; các nhà nghiên cứu đã quan sát tính chất tương tự khi chúng tấn công vào nhau thai và khối u, điều này dẫn đến họ sử dụng protein của ký sinh trùng sốt rét để diệt ung thư.
Cách áp dụng tưởng như chết người này lại mang đến hơn 90% hiệu quả khi thử nghiệm với nhiều mẫu tế bào ung thư khác nhau, nó cũng thành công khi được thử nghiệm trên chuột, những mảnh cấy tế bào ung thư khác nhau của người mang mầm bệnh, điều này như là một cách lấy độc trị độc, nhưng các nhà nghiên cứu có giải thích, protein của ký sinh trùng sốt rét chỉ diệt khối u, không có dấu hiệu nào cho thấy chúng tấn công các tế bào lành mạnh khác.
Sẽ mất vài năm nữa để thử nghiệm này có thể được áp dụng trên người, nhưng các nhà khoa học đầy hy vọng, cho đây là một bước tiến lớn trong điều trị ung thư.
Sản phẩm được bào chế từ lương y của Thọ Xuân Đường
Đối tượng sử dụng TPCN: Người lớn
–  Giúp phòng ngừa ung thư
– Bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư, u bướu
– Bệnh nhân sau phẫu thuật khối u
– Bệnh nhân đang và sau điều trị ung thư bằng tia xạ, hóa chất
– Người thường xuyên tiếp xúc môi trường độc hại có nguy cơ mắc ung thư
 

Sản phẩm được phân phối độc quyền tại Công ty Cổ phần Peacelife Việt Nam
Địa chỉ: 262A Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Hotline: 0943.968.958/ 046.654.7733
Hãy gọi cho chúng tôi để biết thêm về sản phẩm và được tư vấn một cách chi tiết nhất!
Điểm khác biệt khi quý khách mua sản phẩm Anti-u100 giúp phòng ngừa và hỗ  trợ điều trị ung thư  tại Peacelife Việt Nam
1, Cam kế hàng chính hãng: Peaecelife Việt Nam là Công ty phân phối độc quyền các dòng sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, với quy trình nhập hàng nghiêm ngặt để đảm bảo tất cả các  sản phẩm Anti-u100 đều là hàng chính hãng, chất lượng, an toàn. Với tiêu chí đặt sự « an toàn » dành cho khách hàng là số một.
2, Giá cả ưu đãi: Peacelife là công ty phân phối độc quyền nên giá Anti-u100 giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư luôn cam kết giá hãng đã đưa ra chính thức.
3, Giao hàng miễn phí: Dù quý khách ở bất cứ  vùng miền nào trong Việt Nam, sản phẩm Anti-u100 giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung thư sẽ được giao tới tận tay quý khách và quý khách sẽ không phải trả thêm bất cứ một phí vận chuyển nào khác
4, Tư vấn nhiệt tình và có trách nhiệm: Có thể chúng tôi không phải là những người tư vấn hay nhất, nhưng chúng tôi cam kết tư vấn thành thực nhất về sản phẩm.
5, Niềm tin và sự hài lòng: Hàng nghìn khách hàng đã tin tưởng và hài  lòng với dịch vụ của Peacelife. Peacelife Việt Nam luôn làm hết sức để quý khách có được sự hài lòng, luôn mang đến sức khoẻ cho quý khách hàng.
 
TPCN Anti-U100 bổ sung các chất có tác dụng giải độc, đào thải các gốc tự do, giúp ngăn ngừa và hỗ trợ các liệu pháp điều trị u bướu, ung thư; Giảm độc tính và tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị trong điều trị ung thư. Tuy nhiên, do thói quen của người tiêu dùng mà TPCN Anti-U100 thường được tìm kiếm dưới tên gọi là  » Thuốc « , lưu ý thêm rằng sản phẩm không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn một cách chi tiết nhất!

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Người dùng có thể sử dụng các tính năng và lợi ích gì khi sử dụng Hồ sơ sức khỏe cá nhân My Health?

My Health là một ứng dụng quản lý sức khỏe dành cho người dùng, trong đó tập trung vào việc lưu trữ hồ sơ bệnh sử và dần dần cung cấp các giải pháp thích hợp cho việc chăm sóc sức khỏe cá nhân. My Health có hệ thống tính năng và giao diện được tổ chức một cách đơn giản, thân thiện và phù hợp với đa số người dùng phổ thông, kể cả các trường hợp có ít kiến thức về sử dụng phần mềm hay điện thoại thông minh cũng có thể sử dụng được ngay từ lần truy cập đầu tiên.
Hồ sơ bệnh sử của bệnh nhân rất cần thiết phải mang theo đặc biệt là với những bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, bệnh có lịch sử điều trị dài ngày. Tuy nhiên, thay vì việc người bệnh phải mang theo nhiều loại tài liệu bệnh sử từ những nhà cung cấp dịch vụ CSSK khác nhau như phiếu xét nghiệm, phim X-quang hay đơn thuốc cũ… vào mỗi lần tái khám, giải pháp lưu trữ thông minh của ứng dụng My Health giúp các tài liệu này được lưu trữ tập trung và có hệ thống, dưới dạng bản chụp ảnh của tài liệu, trong một tài khoản truy cập online được sở hữu và quản lý bởi người bệnh. Điều này đảm bảo dữ liệu bệnh sử của người bệnh được lưu trữ, hiển thị đầy đủ và chi tiết theo thời gian.
12(1)
Người bệnh cũng có thể dễ dàng mang theo chúng để làm tham khảo cho nơi điều trị mới bất cứ khi nào cần thiết, tạo thuận lợi cho việc chẩn đoán và phối hợp điều trị thống nhất, đồng thời giúp người bệnh được CSSK một cách toàn diện và liên tục.
Các bác sĩ khác  nhau có thể xem hồ sơ sức khỏe điện tử được lưu trữ trên My Health để tiếp tục điều trị theo liệu trình hiện tại của bệnh nhân. Những ghi chú, lưu ý của bác sĩ trước đó như tình trạng dị ứng thuốc, các biến chứng phát sinh… sẽ được các bác sĩ khám sau biết được, và tránh được những can thiệp có khả năng gây hại cho bệnh nhân.
Trong những trường hợp khẩn cấp, việc sẵn có các thông tin bệnh sử còn có thể giúp cứu sống người bệnh, nhờ việc giúp bác sĩ rút ngắn thời gian cho việc chẩn đoán để nhanh chóng đưa ra phương pháp điều trị thích hợp.
my-health
Tựu chung lại, khi cài đặt và đăng ký ứng dụng My Health, người dùng có thể sử dụng các tính năng và lợi ích sau:
  • Lên kế hoạch cho lịch tiêm chủng, nhắc nhở lịch tiêm chủng
  • Tra cứu một cách nhanh nhất bác sĩ, cơ sở khám chữa bệnh, thuốc…
  • Lưu trữ thông tin sức khỏe toàn diện và trọn đời dưới định dạng text và hình ảnh
  • Cho phép một thành viên quản lý nhiều tài khoản khác là thành viên Gia đình.
  • Lưu trữ tập trung
  • Kết nối mọi nơi
  • Hỗ trợ đa phương tiện
  • Lưu trữ trọn đời miễn phí
  • Thuận tiện cho chia sẻ
  • Giảm thiểu thông tin bất cân xứng nhằm trao cho người dùng nhiều thông tin hơn trong việc ra quyết định.
  • Tri thức về sức khỏe.
Phần mềm: Quản lý và lưu trữ hồ sơ sức khỏe cá nhân
Phát triển: Công ty TNHH Một Thành Viên My Health

Điều trị ung thư cổ tử cung bằng Đông Y

Điều trị ung thư cổ tử cung chủ yếu là phẫu trị, xạ trị dùng đơn lẻ hoặc phối hợp. Hóa trị có thể phối hợp y học cổ truyền là phương pháp hỗ trợ nâng cao sức khỏe người bệnh, hạn chế những biến chứng do các phương pháp trên gây ra. Điều trị ung thư cổ tử cung theo Đông Y Y học cổ truyền chia ra các thể bệnh như sau:
          1.     Thể khí uất trệ.
          2.     Thể nhiệt độc uất kết hạ tiêu.
          3.     Thể can thận âm hư.
          4.     Thể tỳ thận dương hư.

Một số triệu chứng của các thể bệnh trên:

          1.     Thể khí uất trệ.
         Triệu chứng chủ yếu là: Người bứt rứt, miệng khô, ngực sườn đầy tức khó chịu, bụng dưới đau, mất ngủ, mê nhiều, kinh đến sớm, khí hư ra nhiều, quanh lưỡi đỏ, rêu trắng, mạch huyền tế hoặc huyền hoạt
          Bài thuốc: Bạch thược 12g, Cam thảo 06g, Phục linh 12g, Bạch truật 12g, Đương quy 12g, Sài hồ 12g, Trần bì 08g, Hương phụ 12g, Ô dược 10g, Nhân trần 12g.

          2.     Thể nhiệt độc uất kết hạ tiêu.
          Triệu chứng chủ yếu: Miệng khô đắng, bụng dưới đau, tức lưng, khí hư nhiều đục như nước vo gạo hoặc vàng thối, chất lưỡi đỏ thấm rêu vàng dày. Phép trị: thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tán kết.
          Bài thuốc : Tử hoa địa đinh Tử hoa địa đinh 12g,Sơn tự cô 12g, Bạch chỉ 12g, Qua lâu nhân 12g, Thuyền thảo 12g, Ngũ hương 04g, Mộc dương 04g, Nhị đầu tiêm (cứt chuột nhắt) 04g, Trần bì 08g, Thất diệp nhất chỉ hoa 12g, Bạch hoa xà thuật thảo 12g, Thổ phục linh 12g, Hạ khô thảo 08g, Kim ngân hoa 12g, Liên Kiều 06g, Bồ công anh 12g, Lậu lô 08g, Quất diệp 10g, Cúc hoa 08g.

          3.     Thể can thận âm hư.
          Triệu chứng: Thắt lung đau, váng đầu ù tai, khó ngủ, mộng mị nhiều, long bàn chân tay nóng, miệng khô, táo bón, lưỡi đỏ rêu mỏng, mạch huyền sác hoặc tế sác.
          Phép trị: Tư dưỡng can thận, hoạt huyết tiêu độc.
          Bài thuốc: Sinh địa 12g, Trị mẫu 12g, Hoàng ba 12g, Hoài sơn 12g, Sơn thù 12g, Bạch linh 12g, Trư linh 12g, Đơn bì 12g, Qua lâu nhân 12g, Hạ khô thảo 12g, Đương quy vĩ 12g, Xích thược 12g, Đơn sâm 12g, Tam thất 06g, Trạch tả 12g. Tán bột hòa thuốc.

          4.     Thể tỳ thân dương hư.
         Triệu chứng chủ yếu: tinh thần mệt mỏi, chân tay yếu lạnh, lưng đau ngực tức, khí hư ra nhiều, tiêu lỏng, thân lưỡi bệu, chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch tế nhược.
          Phép trị: Ôn tỳ thận trừ thấp.
          Bài thuốc: Chế phụ tử 10g (sắc trước), Đẳng sâm 12g (sắc trước), gừng tươi 12g, bạch truật 12g, Bạch linh 12g, Ô tặc cốt 20g, Sinh hoàng kỳ 20g, Ngô thù du 08g, Tiểu hồi 06g.
         Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang, chia uống 3-4 lần trong ngày. Lương y Vũ Quốc Trung Theo sức khỏe đời sống.

Hình ảnh: Internet
Anti-u100
 


Thực phẩm chức năng: Anti – U100
Thành phần chính: Sâm Ngọc Linh, Curcumin, Cao khô Trinh nữ hoàng cung, Cao tam thất rừng, Cao khô Bạch hoa xà thiệt thảo, Cao khô Bạch hoa xà thiệt thảo, Cao khô bán chi liên, Tinh chất thông đỏ, Cao thất diệp nhất chi hoa.
Công dụng: Giúp bổ sung các chất có tác dụng giải độc, đào thải các gốc tự do, giúp ngăn ngừa và hỗ trợ các liệu pháp điều trị u bướu, ung thư, Hỗ trợ giảm độc tính và tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị trong điều trị ung thư.
Sản phẩm được phân phối độc quyền tại Công ty Cổ phần Peacelife Việt Nam.
Địa chỉ: 262A Thụy Khuê, Tây Hồ, HN
Hotline: 0943.968.958/ 046.654.7733

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

Ghi nhớ lịch tiêm chủng cho trẻ bằng hồ sơ sức khỏe My Health

Ứng dụng My Health về quản lý, lưu trữ hồ sơ sức khỏe miễn phí đã được một công ty chuyên về nghiên cứu các ứng dụng phần mềm tiện ích, ra mắt tại Hà Nội.
tính năng my health 2
Sở hữu giao diện mới đơn giản và tinh tế, màn hình tương tác thân thiện và thông minh, các thao tác của người dùng trên ứng dụng My Health được đảm bảo sử dụng nhanh chóng, hoạt động dễ dàng trên cả máy tính và điện thoại giúp cho việc theo dõi sức khỏe thuận tiện suốt cuộc đời.
Ứng dụng hữu ích cho những ai đang có con nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, để giúp người dùng ghi nhớ lịch tiêm chủng.
Ngoài ra, với phương thức quản lý này, người dùng có thể lựa chọn chia sẻ bất cứ dữ liệu nào hoặc toàn bộ dữ liệu đang được lưu trữ cho cá nhân khác như thành viên gia đình, để hỗ trợ cung cấp thông tin trong các trường hợp cần thiết, đặc biệt là trong trường hợp cấp cứu và rất nhiều tiện ích khác nhằm hỗ trợ người dùng chăm sóc sức khỏe.
Ứng dụng My Health được sử dụng trên máy tính cá nhân, thiết bị liên lạc di động dùng hệ điều hành iOS (Tải tại đây) hay Android(Tải tại đây)./.
Nguồn: vietnamplus.vn

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

Hướng dẫn đăng ký sử dụng My Health

Sự phát triển của công nghệ thông tin đang ngày càng làm thay đổi cuộc sống của chúng ta. Nhu cầu của con người tăng cao trong việc chăm sóc sức khỏe cá nhân. Để đáp ứng điều này, My Health ra đời tạo ra một giải pháp quản lý lưu trữ hồ sơ sức khỏe cá nhân online.
tính năng my health 2.jpg
My Health là một ứng dụng quản lý sức khỏe dành cho người dùng, trong đó tập trung vào việc lưu trữ hồ sơ bệnh sử và dần dần cung cấp các giải pháp thích hợp cho việc chăm sóc sức khỏe cá nhân. My Health có hệ thống tính năng và giao diện được tổ chức một cách đơn giản, thân thiện và phù hợp với đa số người dùng phổ thông, kể cả các trường hợp có ít kiến thức về sử dụng phần mềm hay điện thoại thông minh cũng có thể sử dụng được ngay từ lần truy cập đầu tiên.
Để sử dụng ứng dụng My Health chỉ cần một thiết bị di động chạy hệ điều hành iOS (iPhone, iPad) hoặc Android có kết nối Internet là có thể dùng được.
Tại tài khoản trên My Health
Để sử dụng My Health bạn cần download ứng dụng trên mobile.
Bước 1: Vào ứng dụng CH Play hoặc App Store -> Gõ tìm kiếm My Health chọn cài đặt.
Bước 2: Sau khi cài đặt xong bạn mở ứng dụng My Health để đăng ký bằng cách tạo tài khoản (có thể tạo bằng gmail và facebook, số điện thoại)
Bước 3: Bạn điền đầy đủ thông tin (Số điện thoại chỉ được đăng ký một tài khoản) và tạo mật khẩu (ít nhất 6 ký tự)
Bước 4: Nhắn tin kích hoạt tài khoản theo cú pháp “MH DK” gửi 8336
Bước 5: Hoàn tất và bắt đầu cập nhật thông tin sức khỏe.
tính năng my health
Một số tính năng nổi bật của My Health
Phần mềm: Quản lý và lưu trữ hồ sơ sức khỏe cá nhân
Phát triển: Công ty TNHH Một Thành Viên My Health